(Cadn.com.vn) - Tháng Tám. Tôi về Lục Đầu Giang, đến viếng đền Kiếp Bạc (Chí Linh-Hải Dương) theo câu thơ truyền miệng từ bao đời nay của người dân đất Việt “Tháng tám giỗ Cha/ Tháng ba giỗ Mẹ”. Người được nhân dân tôn kính phong Đức Thánh và gọi là Cha, đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Một cảm giác thật đặc biệt khi tôi đặt chân đến đền Kiếp Bạc. Đây rồi! Lục Đầu Giang oai linh (nơi hợp lưu của 6 con sông: Cầu, Thương, Lục Nam, Đuống, Kinh Thầy và nhánh chính sông Thái Bình)- nơi chứng kiến bao cuộc hội thủy quân hùng mạnh, thể hiện sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta trong 3 cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông thời Trần - hiền hòa chảy qua trước cửa đền. Đền Kiếp Bạc uy nghi tựa lưng vào núi Trán Rồng, mặt hướng ra Lục Đầu Giang, thế núi rộng bao quanh mặt thung...
Một khung cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thật nên thơ. Thế nên, chẳng phải ngẫu nhiên mà từ sau cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chọn nơi đây để đóng đại bản doanh, lập phủ đệ và sống những năm tháng cuối đời thanh bình. Trong không gian hùng quan của danh sơn Vạn Kiếp, tôi chợt bâng khuâng nhớ đến hai câu thơ thể hiện hào khí Đông A một thời: “Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí/ Lục Đầu vang vô thủy bất thu thanh” (dịch nghĩa: Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng/ Lục Đầu vang dội tiếng quân reo)...
Cuộc đời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được truyền tụng nhiều giai thoại mang dấu ấn tâm linh thần thánh. Sinh thời, ông là một thiên tài quân sự. Ông có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, phát huy cao độ truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, cùng với triều đình phát động thành công cuộc chiến toàn dân, đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới thời đó, đè bẹp ý chí xâm lược của quân thù.
Nhiều tài liệu cho rằng, ông sinh năm 1228 trong một gia đình quý tộc, nguyên quán ở hương Tức Mặc (Nam Định). Cha của ông là An Sinh vương Trần Liễu- anh ruột Trần Thái Tông – vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần. Tương truyền, vợ của Trần Liễu là Đoan Túc phu nhân Lý Thị Nguyệt là người hiền thục, đam mê tam giáo, thích làm điều thiện. Một đêm, bà nằm mơ thấy nước nhà có đại họa đao binh, chợt thấy một vị thần râu tóc bạc phơ cầm hốt ngọc đề là “Sắc giáng”, xung quanh có rất nhiều tiên đồng ngọc nữ hộ giá.
Giữa đám tiên đồng ngọc nữ là một cậu bé mặc quần áo xanh, tay cầm ấn kiếm ngồi trên mâm vàng. Thần phán: “Ta là Thái Bạch Kim Tinh. Xét thấy nhà ngươi ăn ở lương thiện nên xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho Thanh Y Đồng Tử giáng sinh làm con để trừ giặc giúp nước”. Sau đó không lâu, bà thọ thai hạ sinh một bé trai tuấn tú, đặt tên là Trần Quốc Tuấn... Cả cuộc đời ông gắn liền với những chiến công hiển hách mà cho đến ngày nay và mãi mãi về sau, hậu thế muôn đời nhắc đến tên ông với lòng ngưỡng mộ vô bờ bến.
Ông được Hoàng đế đương triều tự tay viết vào văn bia phong tặng: “Thái sư Thượng phụ, Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên súy, vĩ liệt Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”. Một sử thần thời nhà Lê có thơ ca ngợi ông như sau: “Anh hùng vang hai nước/ Văn võ nức thế gian/ Hơn Gia Cát Lượng đời Hán/ Vượt Quách Phần Dương nhà Đường/ Trung thành mờ nhật nguyệt/ Nghĩa khí át tinh quang/ Thờ tự nay còn mãi/ Tiếng thơm để muôn đời”.
Có chuyện kể, khi được đức vua hỏi về kế sách đánh giặc, ông đã nói: “Có thu dụng quân lính như cha con mới dùng được, vả lại khoan thư sức dân làm kế sâu gốc, bền rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Trong cuộc đời binh đao của mình, ông đối xử với quân sĩ nghĩa tình như cha con: “Tướng sĩ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Nhiều gia thần, môn khách dưới sự dẫn dắt của ông mà làm nên sự nghiệp lớp như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực...
Vì tấm lòng trung nghĩa ái quốc của ông khiến cho Nhân Tông Thượng Hoàng khi nghe tin ông qua đời (20-8-1300 ÂL), đã gục trên long sàn khóc mà than rằng: “Trượng phu vì ta mà bỏ sắt nhọn ở đầu gậy, vì muôn dân mà trừ giặc. Từ nay về sau ta còn có được người nào trung quân ái quốc như thế nữa không?”. Đích thân Nhân Tông Thượng Hoàng, Anh Tông Hoàng Đế cùng bá quan văn võ đều mặc áo tang để tiễn đưa ông về phủ đệ an táng...
Sau đó, Thượng Hoàng sai dân Vạn Kiếp, Thiên Trường, A Sào lập đền thờ cúng muôn đời. Lại còn cho sắc thờ tại Vũ miếu ngang hàng với Khổng Minh, Tử Nghi. Tương truyền, khi ông qua đời đã hóa Thánh càng khiến cho muôn dân đất Việt tôn kính... Giữa dòng Lục Đầu Giang hiện còn cồn cát dài 200m gọi là Cồn Kiếm, nơi Trần Hưng Đạo để lại thanh kiếm báu - biểu tượng trị thủy, ngăn chặn thủy quái quấy nhiễu dân lành. Dân vùng Vạn Kiếp truyền kể, mỗi khi có giặc ngoại xâm, đến đền Thánh Vương cầu đảo thấy hộp đựng kiếm reo lên ắt là đại thắng...
Hơn 7 thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ông quy tịch, đền Kiếp Bạc theo đó mà cũng có những biến đổi thăng trầm. Bằng sự tôn kính đối với bậc tiền nhân có công với đất nước, nhân dân Hải Dương- Vạn Kiếp nói riêng, nhân dân cả nước nói chung vẫn giữ gìn, tôn tạo đền Vạn Kiếp. Đền thờ ông được tôn tạo tại một khu đất rộng ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc.
Được biết, tháng 2-1427, cuộc kháng chiến chống quân Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, Lê Lợi vẫn cho Dương Thái Nhất sửa chữa đền, cấm chặt cây ở khu di tích, để tỏ lòng biết ơn tiền nhân đã có công bảo vệ giang sơn, đất nước, đồng thời cũng là một cách biểu thị niềm tin tất thắng với nhân dân. Qua nhiều thế kỷ binh lửa và mưa gió, các công trình kiến trúc ở Kiếp Bạc từ thời Trần đến thời Lê như rừng gỗ quý, vườn thuốc nam đã bị hủy hoại...
Thấy tôi đứng trầm tư ở gian hậu cung của đền chính, nơi có 4 pho tượng bằng đồng đúc vào cuối thế kỷ XIX, theo thứ tự từ trong ra ngoài, từ phải sang trái: Đệ nhất Khâm từ Hoàng Thái hậu Quyên Thanh công chúa (con gái thứ nhất – Hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông), Đệ nhị nữ Đại hoàng Anh Nguyên quận chúa (con gái thứ hai – phu nhân Phạm Ngũ Lão), Nguyên từ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa, Hưng Đạo Đại Vương; anh Nguyễn Khắc Minh- Trưởng Ban Di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc - chỉ tay về phía bệ thờ Hưng Đạo Vương nói: “Dưới bệ thờ Ngài và bệ thờ của Nguyên từ Quốc Mẫu có một đường hầm nhỏ. Tục truyền rằng, muốn cầu ước điều gì thì “vào cha, ra mẹ” (chui qua hầm cha rồi ra hầm mẹ) là ước nguyện sẽ thành hiện thực. Hầu hết ai đến đây đều làm thế...”. Tôi làm theo hướng dẫn của anh, chợt cảm thấy lòng thanh thản lạ...
Điều tôi lấy làm tiếc là đến Kiếp Bạc không đúng vào ngày giỗ của ông để được theo thuyền dạo trên sông Bình Than (tên gọi khác của Lục Đầu Giang thời nhà Trần) tìm lại hình bóng của cuộc hội thủy quân trên sông Lục Đầu, để sống lại với những chiến công hiển hách của Hưng Đạo Vương.
P.Thủy